SieuHoTro.Com
 
Home My Account Register Domain Transfer Domain Contact Us Whois Documentation
 
Forum Home Forum Home > Health, life > Tư vấn Dinh dưỡng, sức khỏe, sinh sản
  New Posts New Posts RSS Feed: Viêm loét đại tràng
  FAQ FAQ  Forum Search   Register Register  Login Login
If this is your first visit, be sure to check out theForum by clicking the link above. You may have toregister before you can post: click the register link above to proceed. To start viewing messages, select the forum that you want to visit from the selection below.
ASG Vietnam

Viêm loét đại tràng

 Post Reply Post Reply
Author
admingroup View Drop Down
Admin
Admin

ad

Joined: 14 October 2005
Online Status: Offline
Posts: 508
  Quote admingroup Quote  Post ReplyReply Direct Link To This Post Topic: Viêm loét đại tràng
    Posted: 10 March 2009 at 19:06

Triệu chứng


Triệu chứng thường gặp của viêm loét đại tràng là chảy máu trực tràng và ỉa chảy, nhưng triệu chứng này có thể gặp ở những bệnh khác. Sự thay đổi của triệu chứng phản ánh sự khác biệt của mức độ bệnh( bản chất của đại tràng và trực tràng bị viêm) và mức độ viêm. Bệnh nhân bị viêm đại tràng thường chỉ giới hạn ở trực tràng và một đoạn ngắn của đại tràng nối tới trực tràng, triệu chứng thường nhẹ và có tiên lượng tốt hơn bệnh nhân bị viêm đại tràng lan rộng. Các loại viêm loét đại tràng khác nhau được phân loại tuỳ theo vị trí và mức độ lan rộng của viêm:


Viêm loét trực tràng: thường viêm giới hạn ở trực tràng. Ở một vài bệnh nhân bị viêm loét trực tràng, triệu chứng chảy máu trực tràng nhẹ, không liên tục, có thể đây là triệu chứng duy nhất. Ở những bệnh nhân khác, triệu chứng viêm trực tràng có vẽ nặng hơn, họ trải qua cơn đau vùng trực tràng, cảm giác đi tiêu bức bách( đột ngột cảm thấy muốn đi tiêu và không chịu nổi vì sợ dơ), và cảm giác mót rặn, đau oặn (đau khi ruột cử động)


Viêm loét đại tràng xích-ma và trực tràng: ( đại tràng xích-ma là một đoạn ngắn nối với trực tràng). Triệu chứng của viêm loét đại tràng xích-ma và trực tràng, cũng giống với viêm loét trực tràng, bao gồm chảy máu trực tràng, cảm giác đi tiêu cấp bách, buốt mót vùng hậu môn, đau oặn bụng. Một số bệnh nhân bị viêm loét đại tràng xích ma-trực tràng cũng có triệu chứng tiêu chảy có máu và đau oặn.


Viêm loét đại tràng trái bắt đầu từ trực tràng lan lên đoạn đại tràng bên trái( đại tràng sigmoid và đại tràng xuống). Triệu chứng của viêm loét đại tràng trái gồm tiêu chảy phẩn có máu, đau oặn bụng dọc theo khung đại tràng trái, sụt cân..


Viêm toàn bộ đại tràng :( gồm cả đại tràng phải, đại tràng trái, đại tràng ngang và trực tràng ). Triệu chứng của viêm loét toàn bộ đại tràng bao gồm ỉa ra máu, đau oặn bụng, sụt cân, mệt mỏi, sốt, đổ mồ hôi về đêm. Một số bệnh nhân bị viêm loét toàn bộ đại tràng có mức độ viêm nhẹ và có triệu chứng nhẹ, dễ dàng đáp ứng với điều trị thuốc. Tuy nhiên, bệnh nhân bị viêm toàn bộ đại tràng thường là bệnh nặng và khó điều trị hơn so với những người bị viêm loét đại tràng còn khu trú.


Viêm loét đại tràng bùng phát, hiếm gặp nhưng là dạng bệnh nặng của viêm loét toàn bộ đại tràng là cực kỳ nặng, người bệnh mất nước, đau bụng nặng. Bệnh nhân bị viêm đại tràng bùng phát, tiêu chảy ra máu kéo dài và thường bị choáng. Bệnh nhân có nguy cơ bị phình đại tràng nhiễm độc( dãn đại tràng do viêm nặng) và thủng đại tràng. Những bệnh nhân bị viêm đại tràng bùng phát và phình đại tràng do nhiễm độc cần phải nhập viện để điều trị bằng thuốc truyền tĩnh mạch. Nếu không đáp ứng với điều trị bằng thuốc, thì cần thiết phải phẫu thuật cắt bỏ đại tràng để phòng ngừa thủng đại tràng.


Trong khi đó mức độ nặng của viêm loét đại tràng tiến tiển và thoái triển theo thời gian, vị trí và độ lan rộng của viêm đại tràng trên bệnh nhân thường giữ ổn định. Tuy nhiên, khi bệnh nhân bị viêm loét trực tràng bị tái phát, thường viêm cũng chỉ giới hạn ở trực tràng. Ở một số ít bệnh nhân(dưới 10%) viêm loét trực tràng hay trực tràng xích –ma, về sau có thể biến thành viêm đại tràng lan rộng. Do đó, ban đầu bệnh nhân chỉ bị loét trực tràng, về sau có thể phát triển thành viêm loét đại tràng trái hoặc bị viêm loét toàn bộ đại tràng.

 


  Share Topic     
Back to Top
admingroup View Drop Down
Admin
Admin

ad

Joined: 14 October 2005
Online Status: Offline
Posts: 508
  Quote admingroup Quote  Post ReplyReply Direct Link To This Post Posted: 10 March 2009 at 19:06

Nguyên nhân


Nguyên nhân của viêm loét đại tràng và bệnh Crohn’s vẫn chưa rõ. Đến nay, người ta vẫn chưa biết rõ ràng là hai bệnh này có phải là do nguyên nhân nhiễm trùng hay không. Đây cũng không phải là bệnh lây.


Viêm loét đại tràng và bệnh Crohn"s là do hoạt động bất thường của hệ thống miễn dịch trong ruột. Hệ thống miễn dịch này bao gồm miễn dịch tế bào và miễn dịch proteins do tế bào tạo ra. Các tế bào và các protein này dùng để bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân có hại như vi khuẩn, vi-rút, nấm và các yếu tố ngoại lai xâm nhập khác. Hoạt hoá hệ thống miễn dịch là nguyên nhân gây viêm các mô khi hiện tượng hoạt hoá này xảy ra.(Mặt khác, viêm là một cơ chế quan trọng được hệ thống miễn dịch sử dụng). Bình thường, hệ thống miễn dịch chỉ hoạt động khi cơ thể tiếp xúc với yếu tố xâm nhập có hại. Tuy nhiên, ở bệnh nhân bị bệnh Crohn"s và viêm loét đại tràng, hệ thống miễn dịch bất thường và hoạt động một cách thường xuyên mặc dù vẫn chưa rõ có yếu tố xâm nhập. Hoạt hoá bất thường và liên tục của hệ thống miễn dịch là nguyên nhân gây viêm và loét mãn tính. Tính nhạy cảm bất thường của hệ miễn dịch không phải là do di truyền. Do đó mức độ liên quan đầu tiên(anh em trai, chị em gái, trẻ em, và cha mẹ) của bệnh nhân bị bệnh ruột kích thích rất giống với những bệnh này (viêm loét đại tràng và bệnh Crohn’s ).




Back to Top
admingroup View Drop Down
Admin
Admin

ad

Joined: 14 October 2005
Online Status: Offline
Posts: 508
  Quote admingroup Quote  Post ReplyReply Direct Link To This Post Posted: 10 March 2009 at 19:07

Triệu chứng


Triệu chứng thường gặp của viêm loét đại tràng là chảy máu trực tràng và ỉa chảy, nhưng triệu chứng này có thể gặp ở những bệnh khác. Sự thay đổi của triệu chứng phản ánh sự khác biệt của mức độ bệnh( bản chất của đại tràng và trực tràng bị viêm) và mức độ viêm. Bệnh nhân bị viêm đại tràng thường chỉ giới hạn ở trực tràng và một đoạn ngắn của đại tràng nối tới trực tràng, triệu chứng thường nhẹ và có tiên lượng tốt hơn bệnh nhân bị viêm đại tràng lan rộng. Các loại viêm loét đại tràng khác nhau được phân loại tuỳ theo vị trí và mức độ lan rộng của viêm:


Viêm loét trực tràng: thường viêm giới hạn ở trực tràng. Ở một vài bệnh nhân bị viêm loét trực tràng, triệu chứng chảy máu trực tràng nhẹ, không liên tục, có thể đây là triệu chứng duy nhất. Ở những bệnh nhân khác, triệu chứng viêm trực tràng có vẽ nặng hơn, họ trải qua cơn đau vùng trực tràng, cảm giác đi tiêu bức bách( đột ngột cảm thấy muốn đi tiêu và không chịu nổi vì sợ dơ), và cảm giác mót rặn, đau oặn (đau khi ruột cử động)


Viêm loét đại tràng xích-ma và trực tràng: ( đại tràng xích-ma là một đoạn ngắn nối với trực tràng). Triệu chứng của viêm loét đại tràng xích-ma và trực tràng, cũng giống với viêm loét trực tràng, bao gồm chảy máu trực tràng, cảm giác đi tiêu cấp bách, buốt mót vùng hậu môn, đau oặn bụng. Một số bệnh nhân bị viêm loét đại tràng xích ma-trực tràng cũng có triệu chứng tiêu chảy có máu và đau oặn.


Viêm loét đại tràng trái bắt đầu từ trực tràng lan lên đoạn đại tràng bên trái( đại tràng sigmoid và đại tràng xuống). Triệu chứng của viêm loét đại tràng trái gồm tiêu chảy phẩn có máu, đau oặn bụng dọc theo khung đại tràng trái, sụt cân..


Viêm toàn bộ đại tràng :( gồm cả đại tràng phải, đại tràng trái, đại tràng ngang và trực tràng ). Triệu chứng của viêm loét toàn bộ đại tràng bao gồm ỉa ra máu, đau oặn bụng, sụt cân, mệt mỏi, sốt, đổ mồ hôi về đêm. Một số bệnh nhân bị viêm loét toàn bộ đại tràng có mức độ viêm nhẹ và có triệu chứng nhẹ, dễ dàng đáp ứng với điều trị thuốc. Tuy nhiên, bệnh nhân bị viêm toàn bộ đại tràng thường là bệnh nặng và khó điều trị hơn so với những người bị viêm loét đại tràng còn khu trú.


Viêm loét đại tràng bùng phát, hiếm gặp nhưng là dạng bệnh nặng của viêm loét toàn bộ đại tràng là cực kỳ nặng, người bệnh mất nước, đau bụng nặng. Bệnh nhân bị viêm đại tràng bùng phát, tiêu chảy ra máu kéo dài và thường bị choáng. Bệnh nhân có nguy cơ bị phình đại tràng nhiễm độc( dãn đại tràng do viêm nặng) và thủng đại tràng. Những bệnh nhân bị viêm đại tràng bùng phát và phình đại tràng do nhiễm độc cần phải nhập viện để điều trị bằng thuốc truyền tĩnh mạch. Nếu không đáp ứng với điều trị bằng thuốc, thì cần thiết phải phẫu thuật cắt bỏ đại tràng để phòng ngừa thủng đại tràng.


Trong khi đó mức độ nặng của viêm loét đại tràng tiến tiển và thoái triển theo thời gian, vị trí và độ lan rộng của viêm đại tràng trên bệnh nhân thường giữ ổn định. Tuy nhiên, khi bệnh nhân bị viêm loét trực tràng bị tái phát, thường viêm cũng chỉ giới hạn ở trực tràng. Ở một số ít bệnh nhân(dưới 10%) viêm loét trực tràng hay trực tràng xích –ma, về sau có thể biến thành viêm đại tràng lan rộng. Do đó, ban đầu bệnh nhân chỉ bị loét trực tràng, về sau có thể phát triển thành viêm loét đại tràng trái hoặc bị viêm loét toàn bộ đại tràng.

 


Back to Top
admingroup View Drop Down
Admin
Admin

ad

Joined: 14 October 2005
Online Status: Offline
Posts: 508
  Quote admingroup Quote  Post ReplyReply Direct Link To This Post Posted: 10 March 2009 at 19:07

Chẩn đoán


Chẩn đoán viêm loét đại tràng được nghĩ tới khi có triệu chứng đau bụng, chảy máu trực tràng và ỉa chảy. Lấy mẫu phân đem phân tích để loại trừ nguyên nhân nhiễm trùng và ký sinh trùng, vì những bệnh này cũng có triệu chứng giống như viêm loét đại tràng. Xét nghiệm máu cũng có thể cho thấy thiếu máu và tăng tế bào bạch cầu, tăng tốc độ lắng máu( đúng hơn là tăng tốc độ lắng của hồng cầu). Sự gia tăng tế bào bạch cầu và tốc độ lắng hồng cầu phản ánh có tình trạng viêm ở đại tràng.


Để khẳng định có viêm loét đại tràng cần phải nội soi đại tràng. Bác sĩ dùng một ống nhỏ có thể bẻ cong được, đưa vào trực tràng( soi đại tràng xích-ma và soi đại tràng) cho phép bác sĩ quan sát trực tiếp bên trong lòng đại tràng giúp chẩn đoán bệnh và xác định mức độ lan rộng của tổn thương viêm loét đại tràng.


Qua nội soi, bác sĩ sẽ lấy một mẫu nhỏ mô đại tràng (sinh thiết) để xác định mức độ nặng của tổn thương. Việc hiểu rõ về mức độ lan rộng, và độ nặng của viêm loét đại tràng là rất quan trọng trong việc lựa chọn trong số các biện pháp điều trị. Chụp x quang đại tràng có bơm chất cản quang cũng có thể giúp chẩn đoán viêm loét đại tràng. Trong suốt thời chụp bằng baryt, một chất trắng được đưa vào trong trực tràng và vào đại tràng. Barium là một chất cản quang, làm cho hình ảnh đại tràng được rõ nét khi chụp. Chất barium kém chính xác hơn so với kỹ thuật quan sát trực tiếp trong chẩn đoán viêm loét đại tràng.



Back to Top
admingroup View Drop Down
Admin
Admin

ad

Joined: 14 October 2005
Online Status: Offline
Posts: 508
  Quote admingroup Quote  Post ReplyReply Direct Link To This Post Posted: 10 March 2009 at 19:07

Biến chứng


Bệnh nhân bị viêm loét đại tràng còn khu trú ở trực tràng hoặc đoạn cuối của đại tràng trái thường có tiên lượng tốt. Một đợt điều trị ngắn bằng thuốc uống hoặc thuốc bơm vào đại tràng có thể cũng đủ. Ở những bệnh nhân này hiếm khi xãy ra biến chứng nặng. Ở những bệnh nhân bị viêm loét đại tràng lan rộng, mất máu từ nơi bị viêm có thể dẫn đến thiếu máu, đòi hỏi phải điều trị bổ sung thêm chất sắt hoặc truyền máu. Rất hiếm khi đại tràng bị dãn cấp tính khi bị viêm nặng. Bệnh này gọi là phình đại tràng nhiễm độc. Bệnh nhân bị phình đại tràng nhiễm độc rất nặng, sốt cao, đau bụng, chướng bụng, mất nước và suy dinh dưỡng. Nếu không cải thiện nhanh chóng bằng thuốc, phẫu thuật thường cần thiết để phòng ngừa vỡ đại tràng.


Ung thư đại tràng được xem như là một biến chứng của viêm loét đại tràng mãn. Nguy cơ ung thư bắt đầu tăng đáng kể sau 8-10 năm bị viêm loét đại trực tràng. Nguy cơ bệnh nhân bị viêm loét đại tràng phát triển thành ung thư cũng liên quan đến vị trí và mức độ lan rộng của bệnh viêm loét đại tràng. Bệnh nhân chỉ bị viêm loét trực tràng có lẽ không gia tăng nguy cơ ung thư đại tràng so với dân số chung. Số bệnh nhân bị viêm loét toàn bộ đại tràng đang hoạt động 10 năm hoặc lâu hơn, thì nguy cơ bị ung thư đại tràng gấp 10-20 lần so với dân số chung. Bệnh nhân bị viêm loét đại tràng trái mãn tính, nguy cơ ung thư đại tràng tăng nhưng không cao như nhóm bệnh nhân bị viêm loét toàn bộ đại tràng mãn tính.


Trước đây ung thư đại tràng dễ xảy ra nếu như bệnh nhân mắc bệnh viêm loét đại tràng sớm. Khám đại tràng hàng năm có thể được khuyến cáo sau khi mắc bệnh 8 năm. Trong lúc khám, bác sĩ sẽ sinh thiết mô để tìm thay đổi tiền ung thư của những tế bào lót bên trong đại tràng. Khi đã xác định có sự thay đổi tiền ung thư, thì việc cắt bỏ đại tràng có thể cần thiết để ngăn ngừa ung thư đại tràng.


Biến chưng của viêm loét đại tràng mãn tính có thể xảy ra ở nơi khác trong cơ thể . Khoảng 10% bệnh nhân có thể bị viêm khớp (viêm khớp). Một số bệnh nhân có triệu chứng đau lưng do viêm khớp cùng- chậu. Hiếm hơn, người bệnh có thể bị đau, đỏ da, nốt cứng da. Còn một số bệnh nhân khác lại có triệu chứng đau, đỏ mắt. Vì những biến chứng này có nguy cơ làm giảm thị lực. Đau mắt, đỏ mắt là những triệu chứng đòi hỏi người bệnh phải đến khám bác sĩ. Bệnh của gan và ống mật cũng có thể kết hợp với viêm loét đại tràng. Chẳng hạn, một số rất hiếm bệnh nhân mắc chứng bệnh gọi là viêm xơ hoá đường mật, làm cho viêm và nhiễm trùng đường mật hay tái phát có thể gây ra sốt hồi qui, vàng da, xơ gan, và cần phải ghép gan


Back to Top
admingroup View Drop Down
Admin
Admin

ad

Joined: 14 October 2005
Online Status: Offline
Posts: 508
  Quote admingroup Quote  Post ReplyReply Direct Link To This Post Posted: 10 March 2009 at 19:08

Điều trị


Cả thuốc và phẫu thuật được sử dụng để điều trị viêm loét đại tràng. Tuy nhiên, phẫu thuật thường dành cho bệnh nhân bị viêm loét nặng và có biến chứng. Phẫu thuật không phải là một loại thuốc có thể trị khỏi viêm loét đại tràng. Bệnh nhân bị viêm loét đại tràng hay tái phát điển hình từng giai đoạn (viêm trở nên tồi tệ hơn), theo sau là giai đoạn hồi phục kéo dài trong vài tháng tới vài năm.


Trong suốt giai đoạn tái phát, triệu chứng đau bụng tiêu chảy, và xuất huyết đại tràng trở nên xấu đi. Trong thời kỳ lui bệnh, các triệu chứng này giảm đi. Thường thời kỳ lui bệnh xảy ra sau khi điều trị bằng thuốc hay phẫu thuật, nhưng có thể bệnh hồi phục một cách tự nhiên mà không cần bất kỳ phương pháp điều trị nào.



Back to Top
admingroup View Drop Down
Admin
Admin

ad

Joined: 14 October 2005
Online Status: Offline
Posts: 508
  Quote admingroup Quote  Post ReplyReply Direct Link To This Post Posted: 10 March 2009 at 19:17
Đông y trị viêm đại tràng mạn tính
Cây lựu.
KTNT - Trong Đông y, viêm đại tràng mạn tính (VĐTMT) thuộc phạm vi các chứng bệnh như phúc thống, tiết tả, lỵ tật, tràng phong, tang độc... Với những kinh nghiệm được tích lũy từ hàng ngàn năm, y học cổ truyền có rất nhiều thế mạnh trong công cuộc phòng chống căn bệnh này.

Theo cổ nhân, có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh VĐTMT, trong đó có 4 nhân tố chính:

Ngoại tà lục dâm (mầm bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào cơ thể), chủ yếu là phong, nhiệt, thử và thấp, trong đó thấp là thường gặp nhất.

Ẩm thực bất điều, nghĩa là ăn uống không điều độ, kém vệ sinh, lạm dụng những đồ ăn bổ béo khó tiêu hoặc sống lạnh, uống quá nhiều rượu...

Thất tình nội thương (yếu tố tinh thần), trong đó đặc biệt là trạng thái lo lắng buồn phiền (ưu tư) hoặc cáu giận (khủng nộ) kéo dài.

Tỳ vị tố hư, nghĩa là thể chất vốn dĩ suy nhược hoặc bị bệnh tật lâu ngày.

Các nhân tố trên đây trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến công năng của tỳ vị và đại tràng khiến cho quá trình tiêu hóa thức ăn, hấp thu dinh dưỡng và bài tiết các chất cặn bã bị rối loạn, từ đó mà phát sinh các chứng trạng của VĐTMT như đau bụng (phúc thống), tiêu chảy (tiết tả) hoặc đi kiết (kiết lỵ), đầy bụng, chậm tiêu, chán ăn, nôn, buồn nôn...

Để trị liệu VĐTMT, nguyên tắc chung của Đông y là phải bảo đảm tính toàn diện, nghĩa là ngoài việc dùng thuốc phải đồng thời sử dụng nhiều biện pháp như tiến hành các kỹ thuật không dùng thuốc như châm cứu, xoa bóp bấm huyệt, điều chỉnh chế độ ăn uống và sinh hoạt cho phù hợp, tích cực tập luyện khí công dưỡng sinh để nâng cao chính khí (sức đề kháng), bảo đảm giấc ngủ và tạo lập đời sống tinh thần thoải mái... Đương nhiên, vấn đề dùng thuốc vẫn giữ một vai trò hết sức quan trọng và thường được tiến hành theo hai hướng: biện chứng thi trị và biện bệnh thi trị.

Bệnh chứng thi trị, hay còn gọi là biện chứng luận trị, là phương thức trị liệu dựa trên cơ sở chứng trạng và thể bệnh cụ thể mà tiến hành lựa chọn các vị thuốc và bài thuốc cho phù hợp. Ví như, với thể thấp nhiệt uẩn kết thì phải thanh nhiệt táo thấp, thường chọn dùng bài thuốc Thược dược thang mà gia giảm; với thể can tỳ bất hòa thì phải ức can phù tỳ, trọng dụng bài thuốc Thống tả yếu phương; với thể tỳ vị hư nhược thì phải kiện tỳ ích vị, phân thanh giáng trọc, thường dùng bài thuốc Sâm linh bạch truật tán để gia giảm; với thể tỳ thận dương hư thì phải ôn bổ tỳ thận, cố sáp chỉ tả, trọng dụng bài thuốc Phụ tử lý trung thang phối hợp với bài Tứ thần hoàn; với thể khí trệ huyết ứ thì phải hành khí hoạt huyết, kiện tỳ ích khí, thường dùng bài thuốc Cách hạ trục ứ thang để gia giảm; với thể âm huyết khuy hư thì phải tư âm dưỡng huyết, thanh nhiệt hóa thấp, chọn dùng bài thuốc Trú xa hoàn...

Biện bệnh thi trị là phương thức dựa trên cơ chế bệnh sinh chủ yếu của bệnh mà xây dựng một phác đồ điều trị chung cho nhiều thể bệnh. Với VĐTMT, nguyên tắc trị liệu cơ bản là bổ tỳ ích tràng, thanh nhiệt hóa thấp, hoạt huyết hóa ứ. Thuốc dùng theo biện bệnh thi trị có thể là các phương thuốc dân gian (thường dùng cho thể bệnh nhẹ), các bài thuốc tự chế (tân phương nghiệm phương) hoặc các đông dược thành phẩm sản xuất theo đơn cổ phương hay tân phương. Có thể dẫn chứng một số ví dụ điển hình như sau:

Phương thuốc dân gian:

 Sa nhân.

1. Ô mai 25g sắc uống hoặc sao đen, tán bột, mỗi ngày uống 10g với nước cơm hoặc rượu vàng.

2. Vỏ cây lựu (thạch lựu bì) 15g, trần bì 15g, gừng khô 6g, sắc uống.

3. Rễ và vỏ củ riềng 50g, gừng khô 6g, sắc uống.

4. Mã dâu linh tươi 30-60g, tỏi giã nát 10-15g, sắc uống, đồng thời mỗi ngày uống 5g tỏi tươi.

5. Trần bì 15g, lá sen khô 10g, sa nhân 2g, hãm uống mỗi ngày 2 thang...

Tân phương:

1. Kiện tỳ ôn thận thang: đẳng sâm, bạch truật, bạch linh, cam thảo, hoàng kỳ, phụ tử chế, bào khương, ngô thù du, hoài sơn, thăng ma, nhục đậu khấu, ý dĩ, bổ cốt chi, địa du thán, sắc uống.

2. Tràng dương ninh thang: bổ cốt chi, ngô thù du, bạch thược, bạch truật, phụ tử chế, hoài sơn, hoàng liên, đại hoàng, mộc hương, hoàng kỳ, đương quy, sắc uống.

3. Kiện tỳ ích khí thang: đẳng sâm, bạch linh, hoàng kỳ, đương quy, ô mai thán, nhi trà, huyền hồ, mộc hương, bạch thược, cam thảo, sắc uống.

4. Dụ dương thang: đại hoàng, phụ tử, hoàng kỳ, ngũ bội tử, xích thạch chi..., sắc thụt đại tràng.

5. Quán tràng thang: bạch cập, hòe hoa, tông lư thán, hoàng cầm, hoàng bá, sắc thụt đại tràng...

Đông dược thành phẩm: Là các loại thuốc thành phẩm được sản xuất theo cổ phương hay tân phương dưới các dạng như hoàn mềm, hoàn cứng, trà tan, viên nang, cốm thuốc... Ví dụ như: việt cúc hoàn, sâm linh bạch truật tán, tiêu dao tán, tứ thần hoàn, hương sa lục quân hoàn, quy tỳ hoàn, phụ tử lý trung hoàn, hương liên hoàn, bổ trung ích khí hoàn... (theo cổ phương); bổ tỳ ích tràng hoàn, nhân sâm kiện tỳ hoàn, tỳ thận song bổ hoàn, kết tràng viêm hoàn, tràng vị thích, cốc sâm tràng an, cốm bổ tỳ, đại tràng hoàn P/H... (theo tân phương).

ThS. Hoàng Khánh Toàn


Back to Top
 Post Reply Post Reply

Forum Jump Forum Permissions View Drop Down



This page was generated in 0.188 seconds.
[Free Express Edition]
Copyright ©2001-2009 Web Wiz
Support: raovatphanmem Support: Info hanoi software
Online(s): 90.
Visitors Counter:37184937, AVERAGE/day(3503) is: 10615
Begin count is day 02/16/2009

You are browsing this site with: CCBot/2.0 (https://commoncrawl.org/faq/)
Your IP address is: 54.224.166.141
The DNS lookup of the IP address is: 54.224.166.141
The method used to call the page: GET
The server's domain name: sieuhotro.com
The link
BaoKyNam Viêm gan b Thẩm mỹ viện Hoa Kỳ